Home » Tin Giáo Hội Hoàn Cầu
Hàng trăm sinh viên Kitô giáo bị bắn trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh tại Kenya
4/07/2015 06:25:00 AM |
Đức thánh cha Phanxicô đã gởi một thông điệp đến HĐGM Kenya để bày tỏ
sự đau đớn tột cùng của ngài trước cái chết của 147 sinh viên và sự gần
gũi thiêng liêng của ngài với các gia đình nạn nhân trong cuộc tấn công
vào sáng sớm thứ năm của các tên khủng bố Hồi giáo tại Đại học Garissa ở
Kenya.
![]() |
| Thêm chú thích |
Ít nhất 147 sinh viên đã bị thiệt mạng trong cuộc tấn công của bọn khủng bố Hồi giáo Al Shebaab có căn cứ đặt
tại Somalia. Đa số các nạn nhân là sinh viên Kitô giáo. Họ là những
người đã bị hành quyết ngay từ đầu cuộc tấn công sau khi bị tách ra khỏi
các sinh viên theo đạo Hồi.
Trong điện văn gởi Đức hồng y John Njue, Chủ tịch Hội đồng Giám mục
Kenya, thay mặt cho ĐGH Phanxicô, Đức hồng y Pietro Parolin, Quốc Vụ
khanh Tòa thánh viết:
"Đau buồn sâu xa vì sự mất mát lớn lao và
bi thảm về nhân mạng trong cuộc tấn công gần đây vào Đại học Garissa,
Đức thánh cha bảo đảm những lời cầu nguyện của ngài và sự gần gũi tinh
thần với gia đình các nạn nhân và cho tất cả người Kenya đang chịu đau
đớn vào thời điểm này. Ngài phó thác linh hồn những người quá cố cho
lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa toàn năng, và ngài cầu nguyện cho
tất cả những ai than khóc sẽ được Thiên Chúa an ủi trước những mất mát
này. Trong tình hiệp nhất với tất cả mọi người thiện chí khắp thế giới,
ngài lên án hành động tàn bạo vô nghĩa này và cầu nguyện cho sự hoán cải
con tim của những kẻ phạm tội ác này."
"Ngài kêu gọi tất cả
những người có trách nhiệm trong chính quyền tăng gấp đôi các nỗ lực của
họ để hợp tác với tất cả những người nam nữ ở Kenya hầu chấm dứt bạo
lực và thúc đẩy bình minh của một kỷ nguyên mới trong tình huynh đệ,
công lý và hòa bình."
Hồng y Pietro Parolin
Quốc Vụ khanh Tòa thánh
Quốc Vụ khanh Tòa thánh
Nguyễn Việt Nam dịch
Dẫn lại theo Thanhcao's Blog
Toàn văn Sứ điệp Mùa Chay 2015 của Đức Thánh Cha Phanxicô
2/13/2015 06:48:00 PM |Anh chị em thân mến,
Mùa Chay là một mùa canh tân đối với Giáo Hội, các cộng đoàn và mỗi tín hữu. Nhưng trên hết Mùa Chay là ”một mùa ân thánh' (2 Cr 6,2). Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta điều gì mà trước đó Ngài không ban cho chúng ta: ”Chúng ta yêu mến vì Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4,19). Chúa không dửng dưng đối với chúng ta. Chúa quan tâm đến mỗi người chúng ta, Ngài biết đích danh chúng ta, chăm sóc và tìm kiếm chúng ta khi chúng ta bỏ Ngài. Chúa chú ý đến mỗi người chúng ta; tình thương ngăn cản không để cho Chúa dửng dưng đối với những gì xảy đến cho chúng ta. Nhưng xảy ra là khi chúng ta an mạnh và cảm thấy thoải mái, thì chắc chắn chúng ta quên những người khác (điều mà Chúa Cha không bao giờ làm), chúng ta không quan tâm đến những vấn đề của người khác, những đau khổ và bất công họ đang chịu... lúc ấy tâm hồn chúng ta rơi vào thái độ dửng dưng: trong khi tôi tương đối an mạnh và thoải mái, thì tôi quên những người không được an mạnh. Thái độ ích kỷ, dửng dưng này ngày nay có một chiều kích toàn cầu, đến độ chúng ta có thể nói đó là một thứ hoàn cầu hóa sự dửng dưng. Đó là một bất hạnh chúng ta cần đương đầu trong tư cách là Kitô hữu. Khi Dân Chúa trở về với tình thương của Chúa, thì họ tìm được những câu trả lời cho những vấn nạn mà lịch sử luôn đề ra cho họ. Một trong những thách đố khẩn cấp nhất mà tôi muốn dừng lại trong Sứ Điệp này chính là thách đố hoàn cầu hóa sự dửng dưng.
Dửng dưng đối với tha nhân và với Thiên Chúa cũng là một cám dỗ thực sự đối với các Kitô hữu chúng ta. Vì thế, trong mỗi Mùa Chay chúng ta cần nghe lời kêu của các Ngôn Sứ lên tiếng và thức tỉnh chúng ta. Thiên Chúa không dửng dưng đối với thế giới, Chúa yêu thương thế giới đến độ ban Con của Ngài để cứu độ mỗi người. Trong cuộc nhập thể, trong cuộc sống trần thế, trong cái chết và sống lại của Con Thiên Chúa có mở ra vĩnh viễn cánh cửa giữa Thiên Chúa và con người, giữa trời và đất. Và Giáo Hội như bàn tay giữ cho cánh cửa ấy mở rộng nhờ việc công bố Lời Chúa, cử hành các Bí tích, nhờ làm chứng tá đức tin hữu hiệu trong đức bác ái (Xc Gl 5,6). Tuy nhiên, thế giới có xu hướng khép kín vào mình và đóng kín cánh cửa qua đó Thiên Chúa đi vào thế giới và thế giới đến cùng Chúa. Vì thế bàn tay, là Giáo Hội, không bao giờ được ngạc nghiên nếu bị phủ nhận, bị đè bẹp và bị thương.
Vì vậy Dân Chúa cần canh tân, để không trở nên dửng dưng và không khép kín vào mình. Tôi muốn đề nghị với anh chị em 3 bước suy tư để đạt tới sự canh tân.
1. ”Nếu một chi thể đau, thì tất cả các chi thể khác cũng đau” (1 Cr 12,26) - Giáo Hội
Tình thương của Thiên Chúa phá vỡ thái độ khép kín chết chóc là sự dửng dưng, tình thương ấy được Giáo Hội trao tặng cho chúng ta qua giáo huấn, và nhất là qua chứng tá của Giáo Hội. Nhưng chúng ta chỉ có thể làm chứng về điều mà trước đó chúng ta cảm nghiệm. Kitô hữu là người để Thiên Chúa mặc cho chiếc áo lòng từ nhân và thương xót của Ngài, mặc lấy Chúa Kitô, để trở nên giống Chúa, là Tôi Tớ của Thiên Chúa và loài người. Phụng vụ Thứ Năm Tuần Thánh nhắc rõ điều đó cho chúng ta qua nghi thức rửa chân. Thánh Phêrô không muốn Chúa Giêsu rửa chân cho Ông, nhưng rồi đã hiểu rằng Chúa Giêsu không muốn đó chỉ là một ví dụ về cách thức chúng ta phải rửa chân cho nhau. Chỉ có người nào để cho Chúa Kitô rửa chân trước thì mới có thể thi hành việc phục vụ này. Chỉ người nào được ”dự phần” với Ngài (Ga 13,8) thì mới có thể phục vụ con người.
Mùa Chay là mùa thuận tiện để chúng ta để cho Chúa Kitô phục vụ và nhờ đó trở nên như Chúa. Điều này xảy ra khi chúng ta lắng nghe Lời Chúa và khi chúng ta lãnh nhận các bí tích, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể. Trong đó chúng ta trở thành điều mà chúng ta lãnh nhận: trở nên Mình Chúa Kitô. Trong thân mình này, không có chỗ cho sự dửng dưng dường như thường ngự trị trong tâm hồn chúng ta. Vì ai thuộc về Chúa Kitô thì cũng thuộc về một thân mình duy nhất và trong Chúa chúng ta không thể dửng dưng đối với nhau. ”Vì thế nếu một chi thể đau, thì tất cả các chi thể cùng đau chung; và nếu một chi thể được vinh dự thì tất cả các chi thể khác cùng vui mừng với chi thể ấy” (1 Cr 12,26).
Giáo Hội là cộng đồng hiệp thông của các thánh vì các thánh tham dự vào cộng đồng ấy, và cũng vì đó là một sự hiệp thông những sự thánh: tình thương của Thiên Chúa được tỏ lộ cho chúng ta trong Chúa Kitô và tất cả các hồng ân của Chúa. Trong số các hồng ân này cũng có câu trả lời của những người để cho mình được tình thương của Chúa chiếm hữu. Trong cộng đồng hiệp thông của các thánh và trong sự tham dự vào những sự thánh, không ai sở hữu riêng cho mình, nhưng những gì họ có là để cho tất cả. Và vì chúng ta được liên kết với nhau trong Chúa, chúng ta cũng có thể làm được một cái gì đó cho những người ở xa, cho những người mà tự sức riêng chúng ta không bao giờ có thể đạt tới họ, vì cùng với họ và cho họ chúng ta cầu xin Thiên Chúa để tất cả chúng ta đều cởi mở đối với công trình cứu độ của Chúa.
2. ”Em ngươi ở đâu?” (St 4,9) - Các giáo xứ và các cộng đoàn
Những điều nói về Giáo Hội hoàn vũ thì cũng cần được biểu lộ trong đời sống của các giáo xứ và cộng đoàn. Trong các thực tại Giáo Hội này, chúng ta có làm cho mọi người cảm nghiệm được họ là thành phần của một thân mình duy nhất hay không? Đó có phải là một thân mình cùng lãnh nhận và chia sẻ những gì Thiên Chúa muốn ban hay không? Đó có phải là một thân mình biết và chăm sóc những phần tử yếu đuối nhất, nghèo khổ và bé nhỏ nhất hay không? Hoặc chúng ta chạy trốn trong một tình yêu đại đồng, dấn thân nơi xa xăm nhưng lại quên người nghèo Lazzaro ngồi ngay trước cánh cửa khép kín của nhà mình hay không? (Xc Lc 16,19-31).
Để lãnh nhận và làm cho những gì Chúa ban cho chúng ta được sinh hoa kết trái hoàn toàn, cần phải vượt qua những ranh giới của Giáo Hội hữu hình theo hai chiều hướng.
- Thứ nhất, bằng cách liên kết trong kinh nguyện với Giáo Hội thiên quốc. Khi Giáo Hội trần thế cầu nguyện, thì thiết lập một sự hiệp thông phục vụ và mưu ích cho nhau, bay lên trước nhan Thiên Chúa. Cùng với các thánh đã tìm được sự sung mãn trong Thiên Chúa, chúng ta là thành phần cộng đồng hiệp thông ấy, trong đó tình thương chiến thắng dửng dưng. Giáo Hội thiên quốc không chiến thắng vì đã quay lưng lại với những đau khổ của trần thế và vui hưởng một mình. Đúng hơn, các thánh đã có thể chiêm ngắm và vui mừng vì sự kiện, nhờ cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu, các vị đã vĩnh viễn chiến thắng thái độ dửng dưng, sự cứng lòng và oán thù. Bao lâu chiến thắng ấy của tình thương chưa thấm nhập vào toàn thể thế giới, thì các thánh còn đồng hành với chúng ta là những người lữ hành. Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Tiến sĩ Hội Thánh, đã viết với lòng xác tín rằng niềm vui trên trời vì chiến thắng của Tình thương chịu đóng đanh sẽ không trọn vẹn bao lâu còn một người trên trần thế phải chịu đau khổ và rên xiết: ”Con hy vọng sẽ không ngồi yên mà không làm gì trên trời, mong ước của con là còn tiếp tục làm việc cho Giáo Hội và cho các linh hồn” (Thư 254 ngày 14-7-1897).
Cả chúng ta cũng tham dự vào công phúc và niềm vui của các thánh và các ngài tham dự vào cuộc chiến đấu cũng như mong ước của chúng ta muốn được an bình và hòa giải. Niềm vui của các thánh vì chiến thắng của Chúa Kitô Phục Sinh là động lực thúc đẩy chúng ta vượt thắng bao nhiêu hình thức dửng dưng và cứng lòng.
Đàng khác, mỗi cộng đoàn Kitô được kêu gọi hãy vượt qua ngưỡng cửa nối kết họ với xã hội xung quanh, với những người nghèo và những người xa xăm. Giáo Hội tự bản chất là thừa sai, không co cụm vào mình, nhưng được sai tới tất cả mọi người. Sứ mạng của Giáo Hội là kiên nhẫn làm chứng về Đấng muốn mang tất cả thực tại và mỗi người về cùng Chúa Cha. Sứ mạng truyền giáo là điều mà tình thương không thể im lặng. Giáo Hội theo Chúa Giêsu Kitô trên con đường dẫn Giáo Hội tới con người, cho đến tận bờ cõi trái đất (Xc Cv 1,8). Như thế chúng ta có thể nhìn thấy nơi tha nhân người anh chị em mà Chúa Kitô đã chịu chết và sống lại cho họ. Những gì chúng ta nhận lãnh, thì chúng ta cũng lãnh nhận cho họ. Cũng thế, những gì những người anh chị em ấy sở hữu, chính là một món quà cho Giáo Hội và cho toàn thể nhân loại.
Anh chị em thân mến, tôi nồng nhiệt mong ước sao cho các nơi mà Giáo Hội hiện diện, - đặc biệt là các giáo xứ và cộng đoàn của chúng ta, - trở thành những hải đảo từ bi giữa lòng biển cả dửng dưng!
3. ”Anh chị em hãy cũng cố tâm hồn!” (Gc 5,8) - mỗi tín hữu
Cả với tư cách cá nhân, chúng ta cũng bị cám dỗ dửng dưng. Chúng ta bị tràn ngập những tin tức và hình ảnh kinh hoàng thuật cho chúng ta đau khổ của con người và đồng thời chúng ta cảm thấy mình không có khả năng can thiệp. Phải làm gì để không bị cái vòng kinh hoàng và bất lực ấy cuốn mất?
Trước tiên, chúng ta có thể cầu nguyện trong tình hiệp thông của Giáo Hội trần thế và thiên quốc. Chúng ta đừng coi nhẹ sức mạnh kinh nguyện của bao nhiêu người! Sáng kiến 24 giờ cho Chúa, mà tôi cầu mong sẽ được cử hành trong toàn thể Giáo Hội, kể cả ở cấp độ giáo phận, trong những ngày 13 và 14-3 tới đây, muốn biểu lộ sự cần thiết phải cầu nguyện.
Tiếp đến, chúng ta có thể giúp đỡ bằng những việc bác ái, đối với những người ở gần cũng như những người ở xa, nhờ bao nhiêu tổ chức bác ái của Giáo Hội. Mùa Chay là mùa thuận tiện để chứng tỏ sự quan tâm tới tha nhân qua một cử chỉ, dù là nhỏ bé nhưng cụ thể, nói lên sự tham dự của chúng ta vào nhân loại chung.
Thứ ba, sự đau khổ của tha nhân là một lời mời gọi hoán cải, vì nhu cầu của người anh em nhắc nhở cho tôi sự mong manh của đời tôi, sự lệ thuộc của tôi đối với Thiên Chúa và các anh chị em. Nếu chúng ta khiêm tốn cầu xin ơn Chúa và chấp nhận khả năng giới hạn của mình, thì chúng ta sẽ tín thác nơi tiềm năng vô biên chứa đựng trong tình thương của Thiên Chúa. Và chúng ta có thể chống lại cám dỗ của ma quỷ làm chúng ta tưởng mình có thể tự mình cứu thoát bản thân và thế giới.
Để khắc phục sự dửng dưng và sự tự phụ toàn năng của chúng ta, tôi muốn xin tất cả mọi người hãy sống Mùa Chay này như một hành trình huấn luyện tâm hồn, như ĐGH Biển Đức 16 đã nói (Thông điệp Deus caritas est, 31). Có một con tim từ bi không có nghĩa là có một tâm hồn yếu đuối. Ai muốn từ bi thì cần một con tim mạnh mẽ, kiên vững, khép kín đối với kẻ cám dỗ, nhưng cởi mở đối với Thiên Chúa. Một con tim để cho Thánh Linh thấu nhập và dẫn đi trên những con đường tình thương đưa tới các anh chị em. Xét cho cùng, đó là một con tim nghèo, nghĩa là nhận biết sự nghèo hèn của mình và xả thân cho tha nhân.
Vì thế, anh chị em thân mến, tôi muốn cùng với anh chị em cầu xin Chúa Kitô trong Mùa Chay này: ”Fac cor nostrum secundum cor tuum”, xin làm cho trái tim chúng con được nên giống Trái Tim Chúa” (Lời cầu trong Kinh cầu Thánh Tâm Chúa Giêsu). Như thế chúng ta sẽ có một con tim mạnh mẽ và từ bi, tỉnh thức và quảng đại, không để nó khép kín vào mình, không rơi vào vực thẳm của nạn hoàn cầu hóa sự dửng dưng.
Với mong ước ấy, tôi hứa cầu nguyện để mỗi tín hữu và mỗi cộng đoàn Giáo Hội tiến bước trong hành trình Mùa Chay với nhiều thành quả, và tôi xin anh chị em cầu nguyện cho tôi. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em và xin Đức Mẹ gìn giữ anh chị em.
Vatican ngày 4 tháng 10 năm 2014
Lễ Thánh Phanxicô Assisi
(G. Trần Đức Anh OP dịch từ nguyên bản tiếng Ý)
Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô Nhân ngày thế giới các bệnh nhân lần thứ 23, năm 2015
1/30/2015 03:59:00 PM |
Chuyển ngữ: Thuỳ Diệp
Sapientia cordis
“Tôi nên mắt cho kẻ mù loà, thành chân cho người què quặt”
(Gióp 29,15)
Anh chị em thân mến,
Nhân
lần thứ 23 ngày Thế giới các Bệnh nhân, do thánh Gioan Phaolô II
thiết lập, tôi hướng lòng về tất cả các anh chị em đang phải
gánh chịu bệnh tật và được kết hiệp cách này cách khác với
thân xác Đức Kitô đang đau khổ, và tôi cũng hướng lòng về các
anh chị em chuyên viên và thiện nguyện viên trong lãnh vực chăm
sóc y tế.
Chủ đề năm nay
mời gọi chúng ta suy niệm câu sau đây trong sách Gióp: “Tôi nên
mắt cho kẻ mù loà, thành chân cho người què quặt” (29,15). Tôi muốn suy
niệm dưới góc độ của “sapientia cordis”, sự khôn ngoan của tâm
hồn.
1. Sự khôn ngoan
này không phải là một sự hiểu biết lý thuyết, trừu tượng và
là kết quả của suy luận. Nhưng là một sự khôn ngoan, như thánh
Giacôbê mô tả trong thư của ngài, “thanh khiết, sau là hiếu hoà,
khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không
thiên vị, cũng chẳng giả hình” (3,17). Sự khôn ngoan này là một
cách nhìn sự vật do Chúa Thánh Thần linh hứng trong tâm trí
của người biết mở lòng ra trước sự đau khổ của anh em mình và
nhận ra trong họ hình ảnh của Chúa. Vậy chúng ta hãy biến
lời nguyện của Thánh vịnh sau đây thành lời nguyện của chính
mình: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được
khôn ngoan” (Tv 90,12). Chúng ta có thể thu tóm thành quả của
Ngày Quốc tế Bệnh nhân trong sapientia cordis, là một ân huệ của
Thiên Chúa.
2. Sự khôn ngoan
của tâm hồn nghĩa là phục vụ anh chị em mình. Lời của ông
Gióp: “Tôi nên mắt cho kẻ mù loà, thành chân cho người què quặt” cho
thấy ông đã phục vụ những người cần đến sự giúp đỡ của ông,
trên cương vị là một người công chính có uy quyền và có một
chỗ đứng quan trọng trong hàng niên trưởng của thành phố. Sự
cao quý tinh thần được thể hiện nơi ông qua việc phục vụ người
nghèo cần ông giúp đỡ và qua việc chăm sóc cô nhi quả phụ (29,
12-13).
Ngày nay, cũng còn
biết bao Kitô hữu cho thấy họ là “mắt cho kẻ mù loà” và “chân cho
người què quặt”, không phải bằng lời nói mà bằng đời sống được
cắm rễ trong đức tin chân chính! Họ rất gần gũi với những
bệnh nhân cần họ chăm sóc và giúp đỡ thường xuyên trong việc
tắm rửa, mặc quần áo và ăn uống. Giúp đỡ như thế có thể trở
nên mệt mỏi và nặng nhọc sau một thời gian dài. Giúp đỡ ai
vài ngày còn tương đối dễ, nhưng nếu phải chăm sóc ai trong
nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, thì thật là khó, nhất là khi
họ không còn có thể tỏ ra biết ơn mình nữa. Thế nhưng, đây là
con đường tuyệt hảo để giúp chúng ta nên thánh! Trong những
lúc khó khăn như thế, chúng ta có thể đặc biệt tin tưởng rằng
Chúa đang gần gũi chúng ta, và chúng ta cũng trở nên một khí
cụ đặc biệt để hậu thuẫn cho sứ mạng truyền giáo của Giáo
Hội.
3. Sự khôn ngoan
của tâm hồn là ở với anh chị em mình. Thời gian ở bên người
bệnh là một thời gian linh thánh. Đó là cách chúng ta ca ngợi
Chúa vì Người đã làm cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với
Con của Người, Đấng đã “đến không phải để được người ta phục vụ,
nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”
(Mt 20,28). Chính Đức Giêsu cũng nói: “Thầy sống giữa anh em như một
người phục vụ” (Lc 22,27).
Chúng ta hãy có
một đức tin mãnh liệt và xin Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta
ơn hiểu được giá trị của việc đồng hành, thường là trong âm
thầm, khiến chúng ta muốn dành thời giờ cho anh chị em mình,
họ sẽ cảm thấy được yêu thương và an ủi hơn khi thấy chúng ta
gần gũi và yêu mến họ. Ngược lại, thật là một sự lừa dối
khi chúng ta ẩn núp sau những câu nhấn mạnh đến “phẩm chất cuộc
sống”, để làm cho người ta tin rằng người bị bệnh hiểm nghèo
không đáng sống!
4. Sự khôn ngoan
của tâm hồn là ra khỏi mình để đến với anh chị em mình. Đôi
khi thế giới chúng ta quên mất rằng thời gian ở bên giường
người bệnh có một giá trị đặc biệt, vì chúng ta vội vã, vì
chúng ta tất bật với công việc, với sản xuất và quên đi chiều
kích nhưng không, quên chăm sóc người khác, quên trách nhiệm của
mình đối với người khác. Thật ra thái độ này thường che giấu
một đức tin hâm hâm dở dở và không còn nhớ đến lời tuyên bố
này của Chúa: “Các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40).
Đó là lý do tại
sao tôi muốn nhắc lại lần nữa là phải xem “sự ưu tiên tuyệt đối
của ‘việc ra khỏi chính mình để đi về phía anh em của mình’, là một
trong hai điều răn chính làm nền tảng cho tất cả các quy tắc luân lý và
là dấu chỉ rõ ràng nhất để phân định trên cuộc hành trình tăng trưởng
tâm linh ngõ hầu đáp lại hồng ân hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa”
(Evangelii Gaudium, số 179). Chính từ bản chất truyền giáo của
Giáo hội mà phát sinh ra “hiệu quả đức ái đối với những người lân
cận, là lòng trắc ẩn, cảm thông, giúp đỡ và khuyến khích họ” (nt).
5. Sự khôn ngoan
của tâm hồn là liên đới với anh chị em mình mà không xét đoán.
Đức ái cần thời gian. Thời gian để chăm sóc bệnh nhân và thời
gian để thăm viếng họ. Thời gian để ở bên họ như các bạn của
ông Gióp đã làm: “Rồi họ ngồi xuống đất, bên cạnh ông, suốt bảy ngày
đêm, chẳng nói với ông một lời, vì họ thấy rằng nỗi đau khổ của ông quá
lớn” (Gióp 2,13). Thế nhưng các bạn của ông Gióp xét đoán ông
một cách tiêu cực mà họ giấu trong lòng không nói ra: họ nghĩ
rằng ông bị đau khổ như thế là vì ông làm lỗi và bị Chúa
trừng phạt. Trái lại, đức ái đích thật là một sự chia sẻ
không xét đoán, không cho là mình phải hoán cải người khác;
đức ái đích thật không tìm cách tỏ ra khiêm tốn cách giả dối
để mong đợi được ca ngợi và cảm thấy tự hào vì điều tốt
mình làm.
Kinh nghiệm đau
khổ của ông Gióp chỉ tìm được giải đáp đích thật trong thập
giá Đức Kitô, là hành vi cao đẹp nhất Chúa thể hiện để liên
đới với chúng ta, một hành vi hoàn toàn nhưng không và đầy
lòng thương xót. Và sự đáp lại tình yêu trước thảm kịch đau
khổ của con người, nhất là trong sự đau khổ vô tội, luôn được
in sâu trong thân thể của Đức Kitô phục sinh; những vết thương
vinh hiển của Người là cớ vấp phạm cho đức tin, nhưng cũng là
bằng chứng của đức tin (x. Bài giảng trong lễ tuyên thánh Đức
Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II, 27/04/2014).
Ngay cả khi bệnh
tật, cô đơn và bất lực không cho phép chúng ta ra khỏi chính
mình để hướng đến người khác, kinh nghiệm đau khổ cũng có thể
trở nên phương cách tuyệt hảo để thông truyền ân sủng và trở
nên nguồn mạch để đạt đượcsapientia cordis và lớn lên
trong sapientia cordis. Như thế chúng ta mới hiểu được, tại sao
khi đã trải qua hết kinh nghiệm, vào lúc cuối, ông Gióp có thể
nói với Chúa: “Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói
lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến” (42,5). Và những người
đang chìm ngập trong mầu nhiệm đau khổ và đau đớn, khi họ biết
chấp nhận sự đau khổ và đau đớn này trong đức tin, chính họ
cũng trở nên chứng nhân sống động của đức tin có khả năng ôm
lấy đau khổ dù không thể hiểu được ý nghĩa sâu xa của nó.
6. Tôi xin phó dâng
Ngày Thế giới các Bệnh nhân dưới sự che chở đầy tình mẫu tử
của Mẹ Maria, Mẹ đã thụ thai và sinh ra Đức Khôn Ngoan nhập
thể, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Lạy Mẹ Maria, là
Tòa Đấng Khôn Ngoan, xin Mẹ chuyển cầu cho tất cả các bệnh nhân
và cho những người đang chăm sóc họ. Xin Mẹ giúp chúng con, qua
việc phục vụ các anh chị em đang đau khổ và qua chính kinh
nghiệm đau khổ, biếtđón nhận và vun trồng sự khôn ngoan đích
thật của tâm hồn!
Cùng với lời nguyện này, tôi xin gửi đến tất cả anh chị em phép lành Toà Thánh.
Từ Vatican, ngày 3 tháng 12 năm 2014
Lễ nhớ thánh Phanxicô Xavier
PHANXICÔ
Đức Giáo hoàng sẵn sàng gặp Đạt Lai Lạt Ma, "không sợ Trung Quốc"
1/21/2015 06:48:00 AM |Thụy Mi
Đức Giáo hoàng Phanxicô ngày 19/01/2015 mở ra khả
năng gặp gỡ Đạt Lai Lạt Ma, bác bỏ việc Ngài từ chối tiếp nhà lãnh đạo
tinh thần Tây Tạng hồi tháng 12 « vì sợ Trung Quốc ».
«
Thông lệ trong nghi thức lễ tân của Ban thư ký Tòa Thánh không có việc
đón tiếp các nguyên thủ quốc gia hay các nhân vật cao cấp khi họ đến
Roma tham dự một hội nghị quốc tế ». Đức Giáo hoàng đã tuyên bố với các nhà báo đi cùng chuyến bay đến Manila như trên.Hồi tháng 12, Đạt Lai Lạt Ma có mặt tại Roma để dự hội nghị thượng đỉnh các giải Nobel hòa bình.
Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc nhở : « Khi diễn ra hội nghị của FAO (Tổ chức Lương Nông quốc tế) hồi tháng 11, tôi cũng đã không tiếp một ai ». Ngài khẳng định : « Một số báo viết rằng tôi không gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma vì sợ Trung Quốc. Điều này không đúng. Lãnh đạo tinh thần Tây Tạng đã muốn được tiếp kiến cách đây không lâu, và đã được ấn định vào một thời điểm khác, nhưng không phải là lúc này. Chúng tôi đang có quan hệ ».
Về nỗ lực xích lại gần nhau giữa Vatican và Bắc Kinh, Đức Giáo hoàng giải thích : « Trung Quốc đã nêu ra và chúng tôi cũng thế, đang tiến hành từng bước một. Họ biết rằng tôi sẵn sàng đến thăm Bắc Kinh cũng như tiếp đón các quan chức Trung Quốc tại Vatican ».
Chiếc phi cơ đưa Đức Giáo hoàng từ Manila về Roma có bay ngang qua không phận Trung Quốc, và người đứng đầu giáo hội Công giáo đã gởi một bức điện đến Chủ tịch Tập Cận Bình – như ngài vẫn làm đối với mỗi nước mà ngài bay qua. Đức Giáo hoàng viết : « Tôi cam đoan sẽ cầu nguyện cho ngài và cho cả dân tộc Trung Hoa, nguyện cầu tràn đầy ơn thánh cho hài hòa và thịnh vượng ».
Bài phát biểu đầy ấn tượng của Đức Giáo Hoàng tại Sri Lanka
1/18/2015 09:56:00 PM |Công bố Sứ điệp Đức Thánh Cha nhân Ngày Thế giới các bệnh nhân 11-2-2015
1/02/2015 07:20:00 AM |
G. Trần Đức Anh OP
Ngày thế giới các bệnh nhân do Thánh Gioan Phaolô 2 Giáo Hoàng thiết lập và sẽ được cử hành lần thứ 23 vào ngày 11-2-2015, lễ Đức Mẹ Lộ Đức, với chủ đề là một câu trích từ sách Ông Gióp: ”Tôi đã là đôi mắt cho người mù, đôi chân cho người què” (G 29,15).
Trong sứ điệp công bố hôm 30-12-2014, ĐTC quảng diễn chủ đề này và trình bày những hoa trái của sự khôn ngoan tâm hồn. Đây không phải là một kiến thức lý thuyết trừu tượng, nhưng là ”một thái độ được Thánh Linh phú vào trong tâm trí của người biết cởi mở đối với đau khổ của anh chị em mình và nhận ra hình ảnh của Thiên Chúa nơi họ”.
ĐTC lần lượt nói đến:
- Sự khôn ngoan của tâm hồn là phục vụ anh chị em. ”Bao nhiêu Kitô hữu ngày nay đang làm chứng tá, - không phải bằng lời nói, nhưng bằng cuộc sống của họ được ăn rễ trong một đức tin chân thành, - là 'đôi mắt cho người mù' và là 'đôi chân của người què!'. Họ là những người gần gũi các bệnh nhân đang cần được giúp đỡ liên tục, giúp đỡ để tắm rửa, mặc quần áo, ăn uống. Việc phục vụ này, nhất là khi nó kéo dài trong thời gian, có thể trở thành vất vả và nặng nề. Phục vụ vài ngày thì dễ, nhưng thật khó chăm sóc một người kéo dài hàng tháng hoặc hàng năm, cả khi người ấy không còn khả năng cám ơn nữa. Nhưng đó thực là một con đường lớn để thánh hóa! Trong lúc ấy ta có thể cậy trông đặc biệt vào sự gần gũi của Chúa, và là một nâng đỡ đặc biệt cho sứ mạng của Giáo Hội”.
- Sự khôn ngoan của tâm hồn là ở với người anh em. Thời gian trải qua cạnh người bệnh là một thời gian thánh. Là chúc tụng Thiên Chúa, Đấng làm cho chúng ta được đồng hình dạng với Con của Ngài, Đấng đã không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiế mạng sống mình để cứu chuộc nhiều người” (Mt 20,28)
Chúng ta hãy tin tưởng cầu xin Thánh Linh ban cho chúng ta ơn hiểu được giá trị của sự tháp tùng, nhiều khi trong thinh lặng, khiến chúng ta dành thời giờ cho các anh chị em, nhờ sự gần gũi và phục vụ của chúng ta, họ cảm thấy được yêu thương và an ủi hơn. Trái lại, thật là một sự dối trá lớn lao khi nấp đằng sau những kiểu nói nhấn mạnh rất nhiều về ”chất lượng đời sống”, để làm cho người ta tin rằng những mạng sống bị tổn thương nặng nề vì bệnh tật thì không đáng sống!”
- Sự khôn ngoan của tâm hồn là ra khỏi chính mình để đi tới người anh em. Thế giới chúng ta nhiều khi quên giá trị đặc biệt của thời gian ở bên giường người bệnh, vì người ta bị vây bủa vì sự vội vã, miệt mài làm việc, sản xuất, mà quên đi chiều kích nhưng không, chăm sóc tha nhân.
- Sự khôn ngoan của tâm hồn cũng là thái độ liên đới với người anh em mà không xét đoán họ. ”Đức bác ái cần thời gian. Thời gian để chăm sóc người bệnh và thời gian để viếng thăm họ... Đức bác ái chân thành là chia sẻ mà không xét đoán, không chủ trương hoán cải người khác; đức bác ái không có sự khiêm nhường giả tạo, ngấm ngầm tình kiếm sự ủng hộ và hài lòng vì điều thiện đã làm.”
ĐTC cũng khẳng định rằng ”cả khi bệnh tật, cô đơn và tật nguyền thắng thế trong đời sống hiến thân của chúng ta, kinh nghiệm về sự đau khổ có thể trở thành nơi ưu tiên để thông truyền ơn thánh và là nguồn mạch để thủ đắc và củng cố sự khôn ngoan của tâm hồn.”
Sau cùng, ĐTC phó thác Ngày Thế giới các bệnh nhân cho sự bảo trợ của Mẹ Maria, Đấng đã đón nhận Đấng Khôn ngoan nhập thể là Chúa Giêsu Kitô trong cung lòng Mẹ. Ngài cầu xin sự chuyển cầu của Mẹ Maria là Tòa Đấng Khôn ngoan cho tất cả các bệnh nhân và những người săn sóc họ (SD 30-12-2014)
Sứ điệp của ĐTC Phanxicô nhân ngày Hòa Bình Thế Giới 2015
12/31/2014 05:38:00 PM |
Không còn nô lệ nữa, nhưng chỉ còn tình huynh đệ với
nhau
1. Khởi đầu năm mới này, khoảnh
khắc chúng ta đón nhận ân sủng của Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại, tôi xin
chân thành gửi lời chúc bình an đến mọi người nam nữ, cũng như cho mọi dân tộc
và quốc gia trên thế giới, các nhà lãnh đạo quốc gia và chính phủ, và các chức
sắc của tôn giáo, cùng với lời cầu xin để không còn những cuộc chiến tranh, xung
đột và những nỗi đau đớn gây ra bởi con người, các dịch bệnh xưa cũng như nay và
bởi những tàn phá do thiên tai. Tôi đặc biệt cầu xin để, khi đáp lại lời mời gọi
cộng tác của chúng ta với Thiên Chúa và với mọi người thành tâm thiện chí để làm
thăng tiến sự đồng tâm nhất trí, chúng ta biết kháng cự lại những cám dỗ xúi
giục mình hành xử theo cách không xứng với tư cách làm người của chúng ta.
Trong sứ điệp hòa bình vào tháng
giêng năm ngoái, tôi đã nói về “khao khát một cuộc sống tròn đầy… bao hàm ước
mong mãnh liệt về một tình huynh đệ thúc đẩy chúng ta đến với những người khác,
nơi đó chúng ta nhìn về nhau không phải như những kẻ thù hay đối thủ, nhưng như
anh chị em được đón nhận và ôm ấp”.[1] Vì tự bản chất, con người là hữu thể có
tương quan, được an bài là phải đi tìm sự tròn đầy qua các tương quan liên vị,
được gợi hứng bởi sự công bằng và tình yêu, nên việc nhân phẩm, tự do và tính tự
trị được thừa nhận và tôn trọng là rất nền rảng cho việc phát triển của mình.
Đáng buồn thay, những tai họa của việc con người trục lợi nhau đã làm hủy hoại
nặng nề đời sống hiệp thông và lời mời gọi thắt chặt các tương quan liên vị được
đánh dấu bằng sự tôn trọng, công bằng và tình yêu. Hiện tượng ghê tởm này, vốn
dẫn tới việc coi thường các quyền cơ bản của người khác và xóa bỏ quyền tự do và
nhân phẩm của họ, mang rất nhiều hình thức mà giờ đây tôi xin mạn phép đề cập
đến những điều này cách vắn tắt, để dưới ánh sang Lời Chúa, chúng ta có thể xem
tất cả mọi người “không còn là những nô lệ, nhưng là anh chị em với nhau”.
Lắng nghe kế hoạch của Thiên
Chúa dành cho nhân loại
2. Đề tài mà tôi chọn cho sứ
điệp năm nay được rút ra từ thư của Thánh Phaolô gửi ông Philemôn, trong đó
thánh Tông Đồ đã xin cộng sự viên của mình đón nhận Onesimus, trước kia là nô lệ
của Philemon, bây giờ đã trở thành một Kitô hữu và vì thế, theo Phaolô, đáng để
được xem là một người anh em. Vị Tông đồ dân ngoại viết rằng: “Nó đã xa anh một
thời gian để anh có được lại nó vĩnh viễn; không phải được lại một người nô lệ,
nhưng thay vì một người nô lệ, thì được một người anh em rất thân mến” (Plm
15-16). Onesimus đã trở thành người anh em của Philemôn khi ông trở thành một
Kitô hữu. Như thế, việc quay trở về với Đức Kitô, bắt đầu một cuộc sống là người
môn đệ trong Đức Kitô, làm nên một sự tái sinh (x. 2Cr 5,17; 1Pt 1,3) vốn tái
tạo lại tình huynh đệ như là mối dây nền tảng của đời sống gia đình và đời sống
xã hội.
Trong Sách Sáng Thế (x St
1,27-28), chúng ta đọc thấy rằng Thiên Chúa đã dựng nên người nam và người nữ,
và chúc phúc cho họ để họ có thể lớn lên và sinh sôi nảy nở: Ngài tạo nên người
cha Adam và người mẹ Eve, hai người này – khi đáp lại lệnh truyền hãy sinh sôi
nảy nở của Chúa – đã làm nên tình huynh đệ đầu tiên, tình huynh đệ giữa Cain và
Aben. Cain và Aben là anh em, bởi vì chúng được sinh ra từ cùng một dạ, và như
thế, chúng có cùng một nguồn gốc, bản chất và phẩm giá như cha mẹ mình, những
người được tạo ra giống Thiên Chúa và theo hình ảnh Thiên Chúa.
Nhưng tình huynh đệ cũng được
diễn tả trong sự phong phú và khác biệt giữa anh chị em, cho dù họ được nối kết
qua việc cùng do mẹ sinh ra và có cùng bản chất cũng như nhân phẩm. Vì thế, xét
như là những anh chị em, tất cả mọi người, tự bản chất, đều có mối tương quan
với người khác, những người ấy tuy khác với mình nhưng lại cùng chia sẻ một
nguồn gốc, bản chất và phẩm giá. Theo đó, tình huynh đệ làm nên mối dây liên kết
các tương quan thiết yếu để xây dựng gia đình nhận loại do Thiên Chúa tạo ra.
Đáng buồn thay, ngay giữa những
thụ tạo đầu tiên mà sách Sáng Thế kể lại và việc tái sinh trong Đức Kitô, nơi mà
các tín hữu trở nên anh chị em của “con đầu lòng giữa nhiều anh em” (Rm 8,29),
đã tồn tại thực tại tiêu cực của tội lỗi, thường phá vỡ tình huynh đệ giữa các
thụ tạo và liên tục làm biến dạng nét đẹp và sự cao quý của bản chất là anh chị
em của chúng ta trong chính gia đình nhân loại. Cain không những không nâng đỡ
Abel mà còn giết Abel vì lòng ganh tỵ và khi làm thế, ông đã làm nên cuộc chiến
huynh đệ tương tàn đầu tiên. “Việc Cain đã giết em mình là A-ben cho thấy một
thảm kịch của sự khước từ triệt để ơn gọi làm anh em của Cain. Câu chuyện của họ
(x. St 4,1-16) chỉ ra nhiệm vụ khó khăn mà mọi người nam và nữ được mời gọi, để
sống như một, mỗi người phải quan tâm đến người khác.[2]
Cũng như trong câu chuyện của
gia đình ông Noê và con cái ông (x. St 9,18-27), Cam không tôn trọng cha mình là
Noê, khiến Noê quyền rủa đứa con hỗn láo này và chúc phúc cho những đứa khác,
những người kính trọng ông, điều này tạo ra một sự không công bằng giữa những
anh chị em cùng một mẹ sinh ra.
Trong trình thuật về nguồn gốc
của gia đình nhân loại, tội làm cách ly với Thiên Chúa, với cha ông ngày xưa và
với anh em, đã nói lên việc loại trừ sự hiệp thông với nhau và nó được biểu lộ
trong một nền văn hóa chinh phục (x. St 9,25-27), với những hậu quả đan xen và
kéo dài từ thế hệ này đến thế hệ kia: loại trừ người khác, đối xử tệ bạc giữa
con người, bạo lực đến nhân phẩm và các quyền cơ bản và cơ chế hóa của sự bất
công. Từ đây, ta thấy cần phải hoán cải liên lỉ trở về với Giao Ước, được thực
hiện trọn vẹn bởi hiến tế của Đức Giêsu trên thập giá, với niềm tin rằng “nơi
nào càng nhiều tội lỗi, nơi đó ân sủng càng chứa chan… nhờ Đức Giêsu Kitô” (Rm
5,20.21). Đức Kitô, Người Con yêu dấu, đã đến để mặc khải tính yêu của Chúa Cha
dành cho nhân loại. Những ai nghe Tin Mừng và đáp lại lời mời gọi hoán cải thì
trở thành “anh chị em và là mẹ” của Đức Giêsu (Mt 12,50), và vì thế được Thiên
Chúa Cha nhận làm con (x. EP 1,5).
Nhưng người ta không trở thành
một Kitô hữu, một người con của Cha và là anh chị em trong Đức Kitô, xét như là
mệnh lệnh của Chúa, nếu không thực thi quyền tự do cá nhân, nghĩa là, nếu không
được hoán cải trở về với Đức Kitô một cách tự do. Trở thành một người con của
Chúa thì thiết yếu phải được nối kết với sự hoán cải: “Sám hối, và chịu phép
rửa, mỗi người trong anh em, nhân danh Đức Giêsu Kitô để được tha thứ tội lỗi và
anh em sẽ lãnh nhận ân sủng của Thánh Thần” (Cv 2,38). Tất cả những ai đáp lại
lời rao giảng của Phêrô bằng đức tin và với cuộc sống của mình thì đi vào trong
tình huynh đệ của cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên (x. 1Pr 2,17; Cv 1,15.16; 6,3;
15,23): Do Thái và Hy Lạp, nô lệ và tự do (x. 1Cr 12,13; Gl 3,28) trong đó sự
khác biệt về nguồn gốc và tình trạng xã hội không làm giảm đi nhân phẩm của bất
cứ ai hay không cho bất cứ người nào thuộc về Dân Chúa. Vì thế, cộng đoàn Kitô
giáo là một nơi hiệp thông, nơi đó mọi người sống trong tình yêu như anh chị em
(x. Rm 12,10; 1 Tx 4,9; Dt 13,1; 1Pr 1,22; 2Pr 1,7).
Tất cả những điều này cho thấy
làm thế nào Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, qua đó Thiên Chúa làm “mọi sự trở nên
mới” (Kh 21,5)[3], có thể cứu vãn các tương quan giữa con người, bao gồm cả
tương quan giữa nô lệ và ông chủ, bằng cách làm sáng tỏ những điều mà cả hai đều
có chung: cùng được nhận làm con và mối dây tình huynh đệ với Đức Kitô. Chính
Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ vì tôi tớ
không biết việc chủ làm, nhưng thầy gọi anh em là bạn hữu vì tất cả những gì
Thầy nghe được nơi cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15,15)
Nhiều bộ mặt nô lệ hôm qua và
hôm nay
3. Từ thời xa xưa, các xã hội
khác nhau đã biết đến hiện tượng người thống trị người. Đã từng có những giai
đoạn trong lịch sử nhân loại, nơi đó cơ cấu nô lệ được chấp nhận các rộng rãi và
được luật ghi nhận. Điều này quy định những ai được sinh ra tự do và những ai
sinh ra là nô lệ, cũng như những điều kiện mà qua đó một người vốn sinh ra là tự
do nhưng có thể bị mất đi quyền tự do của mình hay có lại nó. Nói cách khác,
chính luật pháp cũng thừa nhận rằng một số người nào đó có thể hay phải bị xem
là tài sản của người khác, có quyền tự do quyết định trên số phận người ấy; một
nô lệ có thể bị mua bán, chuyển giao hay mua được, như thể họ là một món hàng
thương mại.
Ngày nay, với sự phát triển tích
cực của ý thức con người, nạn nô lệ, vốn được xem như là một tội ác chống lại
nhân loại,[4] đã chính thức bị xóa bỏ trên tòa thế giới. Quyền của mỗi người
không được bị xem là nô lệ hay phụ thuộc như nô lệ được thừa nhận trong luật
quốc tế như là một điều khoản bất khả xâm phạm.
Tuy nhiên, bất chấp cộng đồng
quốc tế đã ký kết rất nhiều hiệp ước nhắm tới việc chấm dứt nạn nô lệ dưới nhiều
hình thức, và đã khởi động nhiều chiến dịch khác nhau để chống lại nạn này, hàng
triệu người ngày nay – trẻ em, đàn ông và đàn bà đủ mọi lứa tuổi – vẫn bị trút
bỏ quyền tự do và bị buộc phải sống trong những điều kiện giống như các nô lệ.
Tôi nghĩ đến nhiều lao động nam
và nữ, cả những người trẻ tuổi, bị nô dịch hóa trong nhiều khu vực khác nhau, dù
là chính thức hay không chính thức, từ việc công việc trong nhà cho đến việc
nông nghiệp, từ các nhà máy công nghiệp đến hầm mỏ, tại nhiều nước những quy
định về lao động không khớp với những quy định và chuẩn mực quốc tế tối thiểu,
hay thậm chí là phi pháp khi trong hệ thống pháp luật của mình, không hề có
những quy định nào bảo vệ quyền lợi của người lao động.
Tôi cũng nghĩ đến điều kiện sống
của nhiều người tị nạn, mà, trong cuộc phiêu lưu đầy bi kịch, đã phải chịu đói
khát, đã bị tước bỏ tự do, bị cướp mất của cải hay bị lạm dụng thể lý và tính
dục. Trong số ấy, tôi nghĩ đến những ai, để đến được nơi cần đến sau hành trình
mệt rã rời với đầy những sợ hãi và không an toàn, bị giam giữ trong những điều
kiện hết sức tàn nhẫn. Tôi nghĩ đến những người, vì những lý do kinh tế, chính
trị, xã hội khác nhau, bị buộc phải sống chui rút và những người, để được xem là
hợp pháp, phải đồng ý sống và làm việc trong những điều kiện không xứng hợp, đặc
biệt là khi luật quốc gia tạo ra hoặc cho phép một sự lệ thuộc về cấu trúc của
các công nhân tị nạn đối với chủ lao động, như, ví dụ khi quy định rằng việc cư
trú hợp pháp phải phụ thuộc vào hợp đồng lao động… Vâng, tôi nghĩ đến nạn “nô lệ
lao động”.
Tôi cũng nghĩ đến những người bị
buộc phải đi vào con đường mại dâm, nhiều người trong số họ còn rất nhỏ, nạn nô
lệ và nô lệ tình dục; đến những phụ nữ bị buộc phải kết hôn, những người bị bán
trong những vụ kết hôn được sắp xếp hay những phụ nữ khi chồng chết thì bị
chuyển cho một người thân của chồng như tài sản thừa kế mà không cần biết cô ta
có đồng ý hay không.
Tôi cũng không thể không nghĩ
đến tất cả những ai, trẻ cũng như lớn, là đối tượng của nạn buôn bán cơ phận, bị
bắt nhập ngũ, để xin ăn, để phục vụ cho những hoạt động phi pháp như sản xuất
và buôn bán ma túy, hay để phục vụ cho những hình thức trá hình của nhận con
mang tính quốc tế.
Cuối cùng, tôi nghĩ đến tất cả
những ai bị bắt cóc và giam giữ bởi những nhóm khủng bố, bị nô dịch hóa cho
những mục đích của họ như là những chiến binh hay, trên hết trong những trường
hợp các thiếu nữ và phụ nữ, bị sử dụng như là những nô lệ tình dục. Nhiều người
trong số này đã biến mất trong khi những người khác thì bị bán vài lần, bị tra
tấn và bị hành hạ hay bị giết.
Một vài nguyên nhân sâu xa
của nạn nô lệ
4. Ngày nay, cũng như trong quá
khứ, gốc rễ của nạn nô lệ xuất phát từ quan niệm con người cho phép đối xử nhau
như một đối tượng. Khi nào tội lỗi phá hỏng trái tim con người và làm ngăn cách
chúng ta với Tạo Hóa cũng như với tha nhân, thì tha thân không còn được xem là
những hữu thể có cùng phẩm giá, như là anh chị em cùng chia sẻ nhân tính, nhưng
là những đối tượng. Được tạo ra giống Thiên Chúa và theo hình ảnh Thiên Chúa,
nhưng bằng sự cưỡng bức, sự lừa dối, hay bằng những ép buộc về thể lý hay tâm
lý, Con người đã bị tước đoạt sự tư do của mình, bị bán và bị giảm thiểu xuống
thành hàng hóa của một số người; bị đối xử như là phương tiện chứ không phải như
cùng đích.
Cùng với nguyên nhân mang tính
hữu thể học này – việc loại trừ nhân tính của người khác –, cũng còn có những
nguyên nhân khác giúp giải thích những hình thức nô lệ tân thời. Trong số những
nguyên nhân này, tôi nghĩ trước hết đến sự nghèo khổ, việc chậm phát triển và sự
loại trừ, đặc biệt là khi nó cùng tồn tại với việc thiếu đi nguồn đào tạo hay
với một thực tại được đánh dấu bởi sự khan hiếm, nếu không muốn nói là không có,
những cơ hội việc làm. Thông thường, các nạn nhân của nạn buôn người và nô dịch
là những người tìm cách thoát khỏi hoàn cảnh quá nghèo, họ vội tin theo lời hứa
hão sẽ có việc làm, và họ thường rơi vào tay những mạng lưới tội phạm tổ chức
các chuyến buôn người. Những mạng lưới này rất tinh vi trong việc sử dụng những
phương tiện truyền thông hiện đại để dụ dỗ những người trẻ và rất trẻ ở nhiều
vùng miền trên thế giới.
Nạn hối lộ của những ai sẵn sàng
bất cứ việc gì để làm giàu cũng là một nguyên nhân khác của nạn nô lệ. Thực ra,
những người thực hiện việc nô dịch và buôn bán người thường phải mưu chuộc cả
một hệ thống trung gian phức tạp, một số thành viên của lực lượng cầm quyền hay
các viên chức hay các thể chế dân sự và quân đội. “Điều này xảy đến khi nằm ở vị
trí trung tâm của hệ thống kinh tế là tiền bạc, chứ không phải là con người.
Vâng, ở vị trí trung tâm của hệ thống kinh tế hay xã hội phải là con người, hình
ảnh Thiên Chúa, được dựng nên để làm bá chủ vũ hoàn. Khi con người bị đồng tiền
thay thế, các giá trị sẽ bị đảo lộn”.[5]
Những nguyên nhân khác của nạn
nô lệ là những xung đột vũ trang, bạo lực, hoạt động tội phạm và khủng bố. Nhiều
người đã bị bắt cóc để đem bán, bắt đi chiến đấu như binh lính, hay bị khai thác
tình dục, trong khi những người khác thì buộc phải đi tị nạn, bỏ lại mọi thứ
đàng sau tất cả những gì họ có: đất nước, nhà cửa, của cải và thậm chí là các
thành viên trong gia đình mình. Họ buộc phải đi tìm kiếm một sự thay đổi cho
những điều kiện khủng khiếp này dù phải đánh liều nhân phẩm cá nhân và sự sống
còn của mình, rồi theo đó, họ liều mình đi vào trong vòng xấu xa này khiến họ
trở thành con mồi của bao nỗi thống khổ, mục nát và những hậu quả tại hại khôn
lường.
Cùng dấn thân để xóa bỏ nạn
nô lệ
5. Thông thường, khi suy xét về
hiện trạng buôn người, về việc buôn bán bất hợp pháp những người tị nạn và những
hình thức nô lệ được công nhận hay không công nhận, người ta có một ấn tượng là
chúng xảy đến là do sự thờ ơ chung của mọi người.
Thật đáng buồn, nếu điều này
đúng, tôi xin mạn phép gợi nhắc lại rất nhiều nỗ lực thầm lặng mà các dòng tu,
đặc biệt là các dòng tu nữ, trong nhiều năm qua đã làm để trợ giúp các nạn nhân.
Những dòng tu này đã hoạt động trong những hoàn cảnh rất khó khăn, bị vây bủa
bởi những vụ bạo lực, nhưng luôn cố gắng để phá bỏ những mắc xích vô hình trói
buộc những nạn nhân với những kẻ buôn người và bóc lột người; những mắc xích đó
được làm nên từ một chuỗi nhưng liên kết, mỗi mắc xích được tạo thành từ nhiều
cơ chế tâm lý tinh vi, làm cho các nạn nhân phụ thuộc vào những người bóc lột,
được thực thi bằng những lá thư tống tiền và những đe dọa dành cho họ và những
người thân của họ, cũng như bằng những phương tiên vật chất như tước đoạt giấy
tờ tùy thân của họ và bạo lực thể lý. Hoạt động của các dòng tu được thực thi
chính yếu dưới ba lĩnh vực chính: cung cấp trợ giúp cho các nạn nhân, giúp phục
hồi dưới khía cạnh tâm lý và giáo dục, giúp họ tái hội nhập vào xã hội nơi nơi
họ đến hay xã hội gốc của họ.
Nhiệm vụ rộng lớn này, vốn đòi
hỏi lòng dũng cảm, kiên nhẫn và bền bỉ, xứng đáng được đánh giá cao trong toàn
thể Giáo Hội và xã hội. Tuy nhiên, tự bản thân nó không đủ để tự nhiên xóa bỏ
vết thương của việc bóc lột người. Cũng cần một sự dấn thân ba chiều trên cấp độ
thể chế trong việc ngăn chặn, bảo vệ nạn nhân và truy tố trước pháp luật những
kẻ vi phạm. Tuy nhiên, vì các tổ chức tội phạm có mạng lưới toàn cầu để đạt được
mục tiêu của chúng, nên những nổ lực để xóa bỏ hiện tượng này cũng đòi phải có
một nỗ lực chung mang tính toàn cầu của tất cả các bộ phận khác nhau của xã hội.
Các quốc gia phải đảm bảo rằng
luật pháp của mình về những người tị nạn, việc lao động, việc nhận con nuôi,
việc vận chuyển hàng hải và việc mua bán các sản phẩm do lao động nô lệ sản xuất
ra phải thực sự tôn trọng nhân phẩm của con người. Cần có những điều luật công
bằng, đặt trọng tâm vào con người, đảm bảo các quyền nền tảng và phục hồi lại
những quyền đó khi chúng bị xâm phạm, phục hồi lại các quyền đó cho những ai là
nạn nhân và đảm bảo sự an toàn cá nhân của họ và còn thêm những cơ chế hữu hiệu
để kiểm soát việc áp dụng đúng đắn những điều này để không còn chỗ cho hối lộ
hay bỏ sót tội phạm. Vai trò của phụ nữ trong xã hội cũng phải được thừa nhận,
hoạt động trên bình diện văn hóa và truyền thông để đạt được những kết đáng hy
vọng.
Các tổ chức liên chính phủ,
trong khi giữ nguyên tắc phân chia quyền lực, cũng được mời gọi để phối hợp
những sáng kiến để chiến đấu chống lại các mạng lưới xuyên quốc gia các tội phạm
có tổ chức thực hiện các hoạt động buôn người và buôn bán người tị nạn trái
phép. Việc hợp tác là rất cần thiết trên nhiều lĩnh vực, liên quan đến các thể
chế quốc gia và quốc tế, cũng như các cơ quan của xã hội dân sự và thế giới tài
chính.
Các cơ sở thương mại[6] có nhiệm
vụ đảm bảo những điều kiện làm việc có nhân phẩm và đồng lương tương xứng với
người lao động, đồng thời cũng phải cảnh giác để những hình thức của nô dịch hóa
hay buôn bán người không được tìm thấy chỗ trong chuỗi phân phối. Cùng với trách
nhiệm xã hội của các cơ sở thương mại, cũng cần có trách nhiệm xã hội của những
người tiêu dùng. Thực ra, mỗi người phải có ý thức rằng “việc mua bán luôn là
một hành vi luân lý, chứ không chỉ mang tính kinh tế”.[7]
Các tổ chức trong xã hội dân sự,
về phần mình, có nhiệm vụ khơi dậy và thúc đẩy lương tâm trên những bước cần
thiết để đấu tranh và nhổ tận gốc rễ nền văn hóa nô dịch.
Trong những năm gần đây, Tòa
Thánh, khi cảm thấu được tiếng kêu gào đau khổ của các nạn nhân của nạn buôn
người và tiếng nói của các dòng tu trợ giúp họ trên con đường hướng đến tự do,
đã nhiều lần đề bạt những thỉnh nguyện lên cộng đồng quốc tế để các tổ chức khác
nhau được thống nhất những nỗ lực và cộng tác nhằm loại trừ vết thương này.[8]
Những cuộc gặp gỡ được được tổ chức để lôi kéo sự chú ý của mọi người đến hiện
tượng buôn bán người và tạo điều kiện hợp tác giữa các cơ quan khác nhau, trong
đó có các chuyên gia của giới học thuật và tổ chức quốc tế, lực lượng cảnh sát
từ các nước gốc, nước chuyển giao và nước đến để người tị nạn và các đại diện
của các nhóm trong Giáo Hội làm việc với các nạn nhân. Tôi hy vọng rằng những nổ
lực này sẽ tiếp tục mở rộng hơn trong những năm tới đây.
Toàn cầu hóa tình huynh đệ,
chứ không phải nô lệ hay sự thờ ơ
6. Trong việc “loan báo chân lý
tình yêu của Đức Kitô trong xã hội”[9], Giáo Hội luôn dấn thân không ngừng trong
các hoạt động bác ái xuất phát từ chân lý về con người. Giáo Hội có nhiệm vụ
phải phơi bày ra mọi con đường dẫn đến việc hoán cải, cho phép chúng ta thay đổi
cái nhìn về những người thân cận của mình, để nhận ra nơi những người khác ấy,
dù là ai, người anh chị em trong một gia đình nhân loại, và để thừa nhận phẩm
giá bẩm sinh của họ trong chân lý và tự do, như câu chuyện của Josephine Bakhita
soi sáng cho chúng ta. Đây là vị thánh xuất thân từ vùng Darfur của Sudan, người
đã bị bắt cóc bởi những người buôn bán nô lệ và bị bán cho những ông chủ tàn ác
khi thánh nhân chỉ mới 9 tuổi, và sau đó, từ chính những kinh nghiệm đau thương
này, thánh nhân đã trở nên một “ái nữ tự do của Thiên Chúa” nhờ đức tin sống
trong sự hiến dâng sốt sắng và trong sự phục vụ người khác, đặc biệt là những
người thấp bé và bất lực nhất. Vị thánh này, người đã sống giữa thế kỷ 19 và 20,
ngày nay vẫn có thể trở thành một mẫu gương điển hình cho niềm hy vọng[10] cho
nhiều nạn nhân của nạn nô lệ; ngài có thể nâng đỡ cho những nỗ lực của những ai
dấn thân trong cuộc đấu tranh chống lại “vết thương trên thân mình của nhân loại
đương thời, một vết thương trên thân xác của Đức Kitô”.[11]
Dưới viễn tượng này, tôi muốn
mời gọi mỗi người, theo vai trò và trách nhiệm riêng của mình, hãy thực thi hành
vi huynh đệ đối với những ai đang bị giam giữ trong tình trạng nô dịch. Chúng ta
hãy tự hỏi mình, xét như là những cá nhân và cộng đoàn, liệu chúng ta có cảm
thấy bị tra vấn không khi, trong cuộc sống hàng này, chúng ta gặp gỡ hay đối mặt
với những người đã là nạn nhân của nạn buôn người, hay khi chúng ta phải lựa
chọn không biết có nên mua những sản phẩm mà có thể đã được làm ra từ việc bóc
lột những người khác. Một vài người trong chúng ta, do thờ ơ, hay vì chúng ta
quá bận tâm đến những nhu cầu thường ngày, hay vì những lý do kinh tế, đã khép
mắt lại trước điều này. Tuy nhiên, những người khác lại quyết định làm điều gì
đó tích cực, họ tham gia vào các tổ chức xã hội dân sự hay thực hành những cử
chỉ nhỏ hàng ngày – nhưng lại có giá trị cao! – như nói một lời nói, một lời
chúc sức khỏe, một lời chào hay một nụ cười. Những điều này chẳng làm chúng ta
mất mát gì cả nhưng chúng có thể trao ban niềm hy vọng, mở những cánh cửa, thay
đổi cuộc sống của người khác, những người phải sống cách lén lút và cũng có thể
thay đổi cuộc sống của chính chúng ta đối với thực tại này.
Chúng ta phải nhận ra rằng chúng
ta đang đối mặt với một hiện tượng toàn cầu vượt quá khả năng của bất cứ một
cộng đồng hay quốc gia nào. Để có thể loại trừ nó, chúng ta cần một sự huy động
ở một mức độ ngang tầm với chính hiện tượng đó. Vì thế, tôi khẩn thiết nài xin
tất cả anh chị em thiện chí, và tất cả những ai dù xa hay gần, bao gồm những cấp
độ cao nhất của các thể chế dân sự, những ai chứng kiến nỗi đau của nạn nô lệ
tân thời, đừng thỏa hiệp với sự dữ này, đừng quay mặt đi trước những nỗi đau của
anh chị em mình, của đồng loại mình, những người đã bị tước đoạt tự do và nhân
phẩm, nhưng hãy có dũng lực để đụng đến thân thể đau đớn của Đức Kitô,[12] được
biểu lộ nơi khuôn mặt của vô số những con người mà chính Ngài gọi là “những
người anh em bé mọn của Ta” (Mt 25,40.45)
Chúng ta biết rằng Thiên Chúa sẽ
hỏi mỗi người chúng ta rằng: “Ngươi đã làm gì em ngươi vậy?” (x. St 4,9-10).
Toàn cầu hóa sự thờ ơ, vốn ngày nay đè nặng trên cuộc sống của nhiều anh chị em
của chúng ta, đòi buộc chúng ta phải làm nên một sự toàn cầu hóa tình liên đới
và tình huynh đệ, để có thể trao ban lại cho họ niềm hy vọng mới và giúp họ tiếp
tục bước đi với sự dũng cảm qua những vấn đề của thời đại chúng ta và những chân
trời mới mở ra và được Thiên Chúa đặt để vào tay chúng ta.
Từ Vatican, 8.12.2014
Chuyển dịch từ bản Ý ngữ: Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Nội dung thư ĐTC Phanxicô gửi kitô hữu vùng Trung Đông
12/28/2014 10:29:00 PM |
Linh Tiến Khải
**
Ngày 23 tháng 12 vừa qua Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố thư gửi kitô
hữu vùng Trung Đông để bầy tỏ tình liên đới và lòng biết ơn của toàn
thể Giáo Hội đối với trách nhiệm cao qúy và chứng tá can đảm kiên cường
của họ. Ngài mở đầu thư như sau: “Anh chị em thân mến, “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (1 Cr 1,3-4).
Các lời này cuả tông đồ Phaolô đã tới trong tâm trí tôi, khi tôi nghĩ tới việc viết thư cho anh chị em kitô hữu vùng Trung Đông. Tôi làm điều này nhân lễ Giáng Sinh Thánh gần tới, biết rằng đối với nhiều người nước mắt và thở dài sẽ trộn lẫn với các nốt nhạc thánh ca. Tuy nhiên, biến cố Con Thiên Chúa nhập thể sinh ra là một mầu nhiệm ủi an không thể diễn tả nổi. Rất tiếc trong vùng Trung Đông không thiếu buồn đau và khốn khó trong quá khứ, và chúng đã gia tăng trong các tháng qua vì các xung khắc gây khổ đau cho vùng này, nhất là vì hoạt động gây lo âu mới đây của một tổ chức khủng bố có các chiều kích không thể tưởng tượng được, với những lạm dụng đủ loại và các hành động không xứng đáng với con người, đặc biệt chống lại một số trong anh chị em đã bị đuổi ra khỏi vùng đất của mình một cách tàn bạo, nơi các kitô hữu đã hiện diện từ thời các Tông Đồ.
Ngỏ lời vói anh chị em tôi không thể quên các nhóm tôn giáo và chủng tộc khác cũng đang gánh chịu bách hại và các hậu qủa của các xung khắc. Hàng ngày tôi theo dõi các tin tức liên quan tới nỗi khổ đau to lớn của nhiều người tại Trung Đông. Tôi đặc biệt nghĩ tới các trẻ em, các bà mẹ, người già, người di tản và tỵ nạn, những người phải sống cảnh đói khát và đương đầu với mùa đông giá lạnh không nơi trú ngụ.
Nỗi khổ đau này kêu lên tới Thiên Chúa và mời gọi sư dấn thân của tất cả mọi người, trong lời cầu nguyện và mọi sáng kiến trợ giúp. Tôi muốn bầy tỏ với tất cả anh chị em sư gần gũi và liên đới của tôi và của Giáo Hội và cống hiến cho anh chị em một lời an ủi và hy vọng.
** Anh chị em thân mến, là những người can đảm làm chứng cho Chúa Giêsu trong vùng đất của anh chị em được Chúa chúc phúc, sự an ủi và niềm hy vọng của anh chị em là chính Chúa Kitô. Tôi khuyến khích anh chị em gắn bó với Chúa Giêsu Kitô như cành nho gắn liền vào thân nho, xác tín rằng gian truân khốn khổ bắt bớ không thể tách chúng ta ra khỏi Người (Rm 8,35). Ước chi thử thách mà anh chị em đang phải trải qua củng cố đức tin và lòng trunh thành của tất cả anh chị em. Tôi cầu nguyện để anh chị em sống sự hiệp thông huynh đệ theo gương cộng đoàn Giêrusalem tiên khởi. Trong những lúc khó khăn này sự hiệp nhất mà Chúa muốn cần thiết hơn bao giờ hết. Đó là một ơn của Thiên Chúa, nó mời gọi sự tự do của chúng ta và chờ đợi câu trả lời của chúng ta. Ước chi Lời Chúa, các Bí tích, lời cầu nguyện và tình huynh đệ dưỡng nuôi và liên tục canh tân cộng đoàn của anh chị em.
Hoàn cảnh của anh chị em là một lời kêu gọi mạnh mẽ sống thánh thiện, như các thánh và các vị tử đạo thuộc mọi giáo hội đã chứng thực. Với lòng quý mến kính trọng tôi nghĩ tới các Chủ Chăn và các tín hữu trong các thời gian qua đã hy sinh mạng sống, thường khi chỉ vì sự kiện là kitô hữu.Tôi cũng nghĩ tới các người bị bắt cóc, trong đó có vài Giám Mục chính thống và linh mục thuộc các nghi lễ khác nhau. Ước chi các vị có thể an lành trở về nhà và cộng đoàn của các vị! Tôi cầu xin Chúa cho biết bao khổ đau ấy kết hiệp với thập giá Chúa trao ban hoa trái thiện ích cho Giáo Hội và cho các dân tộc vùng Trung Đông.”
Đức Thánh Cha viết tiếp trong thư: “Giũa các thù nghịch và xung khắc, sự hiệp thông giữa anh chị em trong tình huynh đệ và sự đơn sơ là dấu chỉ của Nước Thiên Chúa, Tôi hài lòng về các tương quan và sự cộng tác tốt đẹp giữa các Thượng Phụ của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phưong và các Giáo Hội Chính Thống, cũng như giữa tín hữu của các Giáo Hội khác nhau. Các khổ đau do kitô hữu phải chịu là một đóng góp vô giá cho sự hiệp nhất. Đó là phong trào đại kết của máu đòi hỏi sự tín thác nơi hoạt động của Chúa Thánh Thần.
Ước chi anh chị em luôn luôn có thể làm chứng cho Chúa Giêsu qua các khó khăn! Sự hiện điện của anh chị em qúy báu cho vùng Trung Đông. Anh chị em là một đoàn chiên bé nhỏ, nhưng với một trách nhiệm lớn trong vùng đất nơi Kitô giáo dã nảy sinh và được phổ biến. Anh chị em là men trong đám đông.
Trước cả biết bao nhiêu hoạt động cùa Giáo Hội trong lãnh vực học đường, y tế hay bác ái, được mọi người qúy chuộng, sự giầu có lớn nhất cho Vùng này là các tín hữu kitô, là anh chị em. Xin cám ơn sự kiên trì của anh chị em!
Sự cộng tác của anh chị em với tín hữu của các tôn giáo khác, do thái và hồi giáo, là một dấu chỉ khác nữa của Nước Thiên Chúa. Tình hình càng khó khăn, thì cuộc đối thoại liên tôn lại càng cần thiết. Không có con đường nào khác. Sự đối thoại dựa trên một thái độ cởi mở, trong sự thật và tình yêu thương, cũng là phương thuốc tốt nhất cho cám đỗ cuồng tín tôn giáo, là một đe dọa đối với tín hữu của mọi tôn giáo. Đồng thời đối thoại là một phục vụ công lý và một điều kiện cần thiết cho hòa bình mong ước biết bao.
** Đa số anh chị em sống trong một môi trường có đa số dân theo hồi giáo. Anh chị em có thể trợ giúp các công dân hồi giáo trình bầy một gương mặt đích thật hơn của Hồi giáo với sự phân định, như biết bao tín hữu hồi mong muốn, họ lập lại rằng Hồi giáo là một tôn giáo hòa bình và có thể đồng ý với việc tôn trọng các quyền con người và tạo thuận tiện cho sự chung sống của tất cả mọi người. Sẽ là một thiện ích cho họ và cho toàn xã hội. Tình trạng thê thảm mà các anh chị em kitô sống bên Irak, cũng như các anh chị em Yazidi và những người thuộc các cộng đoàn tôn giáo và chủng tộc khác, đòi buộc phải có một lập trường rõ ràng và can đảm từ phía tất cả các vị lãnh đạo tôn giáo, để đồng loạt lên án không mập mờ các tội phạm đó và tố cáo thói quen kêu cầu tôn giáo để biện minh cho các tội phạm.
Anh chị em thân mến, hầu hết anh chị em là những công dân sinh ra trong quê hương của anh chị em và vì thế anh chị em có bổn phận và quyền được tham dự hoàn toàn vào cuộc sống và sự lớn lên của đất nước anh chị em. Trong Vùng anh chị em được mời gọi là những người xây dựng hòa bình, hoà giải và phát triển, thăng tiến đối thoại, xây các cây cầu, theo tinh thần các Mối Phúc Thật (x, Mt 5,3-12), loan báo tin vui hòa bình, cởi mở cộng tác với tất cả các chính quyền quốc gia và quốc tế.
Một cách đặc biệt tôi ước mong bầy tỏ sự qúy mến và biết ơn của tôi đối với anh em, các anh em Thượng Phụ, Giám Mục, Linh Mục Tu Sĩ nam nữ rất thân mến, là những người mau mắn đồng hành với các cộng đoàn của mình. Qúy báu biết bao, sự hiện diện và hoạt động của người đã tận hiến hoàn toàn cho Chúa và phục vụ Người nơi các anh em khác, nhất là những người cần được giúp đỡ, bằng cách làm chứng cho sự vĩ đại và tình yêu vô biên của Người! Quan trọng biết bao nhiêu sự hiện diện của các Chủ Chăn bên cạnh đoàn chiên cùa mình, nhất là trong những lúc khó khăn!
Tiếp đến Đúc Thánh Cha ngỏ lời với các thành phần khác như sau:
Cho các bạn là người trẻ, tôi gửi tới các bạn một vòng tay ôm hiền phụ. Tôi cầu nguyện cho đức tin, cho sự trưởng thành nhân bản và kitô của các bạn và để cho các dự án tốt đẹp nhất của các bạn được hiện thực. Và tôi lập lại với các bạn: “Đừng sợ hãi hay xấu hổ là tìn hữu kitô. Tương quan với Chúa Giêsu sẽ khiến cho các bạn sẵn sàng cộng tác không dè dặt với các công dân khác, dù họ thuộc tôn giáo nào đi nữa” (Biển Đức XVI, Tông huấn Giáo Hội tại Trung Đông, 63).
Với anh chị em là người già cả, tôi xin gửi tới anh chị em các tâm tình qúy mến của tôi. Anh chị em là ký ức các dân tộc của anh chị em. Tôi cầu chúc rằng ký ức ấy là hạt giống trưởng thành cho các thế hệ mới.
Tôi muốn khích lệ những người hoạt động trong các môi trường bác ái và giáo duc rất quan trọng. Tôi ngưỡng mộ công việc anh chị em đang làm, đặc biệt qua tổ chức Caritas và với sự trợ giúp của các tổ chức bác ái công giáo thuộc nhiều nước khác nhau, trợ giúp không phân biệt ai. Qua chứng tá bác ái anh chị em cống hiến sự hỗ trợ giá trị cho cuộc sống xã hội và cũng góp phần cho hòa bình, mà Vùng này đang đói khát như cơm bánh. Nhưng cả trong lãnh vực giáo dục cũng liên quan tới tương lai của xã hội. Quan trọng biết bao nhiêu, việc giáo dục cho nền văn hóa gặp gỡ, cho việc tôn trọng phẩm giá con người và giá trị tuyệt đối của bản vị con người !
** Anh chị em rất thân mến, tuy chỉ là con số ít ỏi, anh chị em là các tác nhân cuộc sống của Giáo Hội và của các quốc gia trong đó anh chị em sinh sống. Toàn thể Giáo Hội gần gửi và ủng hộ anh chị em với lòng trìu mến và qúy trọng đối với các cộng đoàn của anh chị em và sứ mệnh của anh chị em. Chúng tôi sẽ tiếp tục trợ giúp anh chị em với lời cầu nguyện và các phương tiện có được.
Đồng thời tôi tiếp tục khuyến khích Cộng đồng quốc tế đáp ứng các nhu cầu của anh chị em và của các anh chị em thuộc các nhóm thiểu số khác đang đau khổ; trước hết bằng cách thăng tiến hòa bình qua đối thoại và công tác ngoại giao, bằng cách tìm khai trừ và chặn đứng bạo lực sớm nhất có thể, vì nó đã gây ra qúa nhiều thiệt hại. Tôi nêu bật việc mạnh mẽ không tán đồng các vụ buôn bán khí giới. Chúng ta cần các dự án và sáng kiến hòa bình hơn, để thăng tiến một giài pháp toàn cầu cho các vấn đề trong Vùng. Trung Đông còn phải khổ đau bao lâu nữa vì thiếu hòa bình? Chúng ta không thể chịu trận trước các xung khắc như thể là không thể thay đổi được! Theo dấu vết chuyến hành hương tại Thánh Địa và buổi cầu nguyện tại Vaticăng với các tổng thống Israel và Palestina, tôi mời gọi tiếp tục cầu nguyện cho hòa bình tại vùng Trung Đông. Ước chi ai đã bị bó buộc phải bỏ quê hương mình, có thể trở về sống trong phẩm giá và an ninh. Ước chi sự trợ giúp nhân đạo có thể gia tăng bằng cách luôn luôn đặt thiện ích của con người và của mọi quốc gia vào trung tâm, trong sự tôn trọng căn tính riêng của nó, mà không đặt để vào đó các lợi nhuận khác.
Anh chị em kitô vùng Trung Đông thân mến,
anh chị em có một trách nhiệm lón lao và anh chị em không cô đơn trong việc đối phó với nó. Vì thế tôi đã muốn viết thư cho anh chị em để khích lệ anh chị em và nói cho anh chị em biết rằng sự hiện diện và sứ mệnh của anh chị em trong vùng đất được Chúa chúc phúc quý báu chừng nào. Chứng tá của anh chị em tốt cho tôi biết bao. Xin cám ơn anh chị em. Hàng ngày tôi cầu nguyện cho anh chị em và cho các ý chỉ của anh chị em. Tôi cám ơn anh chị em, bởi vì tôi biết rằng trong đau khổ anh chị em cũng cầu nguyện cho tôi và việc phục vụ Giáo Hội của tôi. Tôi vô cùng hy vọng được ơn đích thân đến thăm anh chị em để an ủi anh chị em. Xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ hoàn toàn thánh thiện của Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta, luôn đồng hành với anh chị em với sự hiền dịu của Người. Tôi xin gửi tới anh chị em tất cả và gia đình anh chị em Phép Lành Tòa Thánh, và cầu chúc anh chị em sống lễ Giáng Sinh Thánh trong tình yêu thương và niềm an bình của Chúa Kitô Cứu Thế.
Từ Vaticăng ngày 21 tháng 12 Chúa Nhật thứ tư mùa Vọng. Giáo Hoàng Phanxicô





